Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, vấn đề phát triển nguồn nhân lực có tay nghề, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là các chương trình đào tạo sơ cấp và đào tạo dưới ba tháng, luôn được coi là giải pháp thiết thực, nhanh chóng và hiệu quả để trang bị kỹ năng cho người lao động. Đối với Bắc Ninh, một tỉnh công nghiệp năng động, nơi hội tụ nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước, nhu cầu nguồn lao động có kỹ năng nghề càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
Sau khi thực hiện chủ trương sáp nhập tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh để hình thành tỉnh Bắc Ninh mới, thực tiễn đã đặt ra yêu cầu phải có một hành lang pháp lý thống nhất trong việc quản lý, triển khai các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề. Trước đây, hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh (cũ) đều đã ban hành các quyết định riêng biệt về danh mục nghề, mức hỗ trợ chi phí đào tạo nghề và giá dịch vụ sự nghiệp công. Tuy nhiên, việc song song tồn tại nhiều văn bản đã tạo ra sự chồng chéo, phân tán, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện. Chính vì vậy, việc xây dựng và ban hành Quyết định mới về danh mục nghề, mức hỗ trợ chi phí đào tạo nghề và giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước đối với đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp và dưới ba tháng là hết sức cần thiết, vừa khắc phục bất cập, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn của tỉnh Bắc Ninh mới.
Ảnh minh họa.
Dự thảo Quyết định do Sở Giáo dục và Đào tạo trình UBND tỉnh được xây dựng trên cơ sở hệ thống pháp lý đầy đủ và chặt chẽ. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định rõ thẩm quyền của UBND tỉnh trong việc quyết định các chế độ, định mức chi ngân sách, phân bổ dự toán, điều chỉnh ngân sách và ban hành đơn giá, giá sản phẩm, dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý. Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ giao trách nhiệm cho UBND các tỉnh, thành phố trong việc phê duyệt danh mục nghề đào tạo, mức chi phí đào tạo cho từng nghề, mức hỗ trợ đối với từng nhóm đối tượng, đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo hằng năm và 5 năm về hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới ba tháng. Thông tư số 40/2019/TT-BTC của Bộ Tài chính cũng hướng dẫn cụ thể về việc quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn, trong khi Nghị định số 32/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu cung cấp dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước. Như vậy, dự thảo lần này vừa tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật hiện hành, vừa bảo đảm tính kế thừa và đồng bộ so với các quyết định trước đây của hai tỉnh.
Về nội dung, dự thảo Quyết định bao gồm bốn điều khoản chính cùng hai phụ lục chi tiết. Trong đó, nội dung quan trọng nhất là quy định danh mục nghề đào tạo và mức hỗ trợ chi phí đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới ba tháng. Danh mục nghề được xây dựng trên cơ sở kế thừa danh mục của Bắc Giang và Bắc Ninh (cũ), đồng thời bổ sung, điều chỉnh phù hợp với nhu cầu lao động hiện nay.
Điểm nhấn đặc biệt của dự thảo là chính sách hỗ trợ chi phí đào tạo nghề, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với người lao động, nhất là các nhóm yếu thế. Cụ thể, người khuyết tật được hỗ trợ cao nhất, 6 triệu đồng/người/khóa học; người thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, người thuộc hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn được hỗ trợ 4 triệu đồng/người/khóa học; người dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, người thuộc hộ bị thu hồi đất sản xuất, lao động nữ mất việc làm được hỗ trợ 3 triệu đồng; hộ cận nghèo được hỗ trợ 2,5 triệu đồng; thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, công an, thanh niên tình nguyện, người chấp hành xong án phạt tù, phụ nữ và lao động nông thôn khác được hỗ trợ 2 triệu đồng/người/khóa học. Quy định này không chỉ cụ thể, rõ ràng mà còn công bằng, minh bạch, đảm bảo mọi đối tượng có cơ hội tiếp cận đào tạo nghề để cải thiện cuộc sống.
Đối với giá dịch vụ sự nghiệp công trong đào tạo nghề, dự thảo xác định cụ thể tại phụ lục kèm theo, làm căn cứ cho việc ký kết hợp đồng đặt hàng đào tạo, tạo sự minh bạch trong sử dụng ngân sách nhà nước. Đáng chú ý, dự thảo loại bỏ quy định giá đối với nghề đào tạo lái xe ô tô hạng B2 và C, do chương trình khung mới không còn quy định đào tạo ở trình độ sơ cấp cho hai loại giấy phép lái xe này. Điều chỉnh này phù hợp với thực tế, tránh lãng phí nguồn lực và tập trung hơn vào những ngành nghề thiết thực.
Khi được ban hành và triển khai, Quyết định sẽ tạo ra những tác động tích cực, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh. Người lao động, nhất là lao động nông thôn, phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo… sẽ có cơ hội tham gia học nghề với chi phí thấp hoặc được hỗ trợ hoàn toàn. Sau khi học xong, họ có thể tìm được việc làm tại các doanh nghiệp trong tỉnh, tham gia xuất khẩu lao động hoặc tự tạo việc làm, qua đó cải thiện thu nhập, ổn định đời sống, góp phần giảm nghèo bền vững. Doanh nghiệp trong và ngoài các khu công nghiệp sẽ có nguồn lao động đã qua đào tạo cơ bản, tiết kiệm chi phí đào tạo lại, tăng năng suất lao động. Cơ quan quản lý nhà nước có hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ để quản lý, triển khai chính sách, bảo đảm sử dụng hiệu quả ngân sách. Xã hội nói chung sẽ được hưởng lợi khi tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên, chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Để đưa chính sách đi vào cuộc sống, Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Ninh xác định sẽ phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, chính quyền địa phương và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong công tác tuyên truyền, phổ biến, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm việc thực hiện đúng đối tượng, đúng chính sách, tránh tình trạng lợi dụng, trục lợi. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần chủ động đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, tăng cường gắn kết với doanh nghiệp để đào tạo sát với nhu cầu thực tế, đảm bảo người học “ra trường có việc làm”.
Việc xây dựng và ban hành Quyết định lần này không chỉ là sự điều chỉnh về mặt kỹ thuật quản lý, mà còn thể hiện quyết tâm của tỉnh Bắc Ninh trong việc quan tâm đến đời sống nhân dân, chăm lo cho các đối tượng yếu thế, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới. Đây là bước đi quan trọng để Bắc Ninh tiếp tục khẳng định vị thế là tỉnh công nghiệp phát triển năng động, thu hút đầu tư, và hơn hết là một địa phương có chính sách nhân văn, vì con người, vì sự phát triển bền vững./.